chuẩn đoán chứng mỡ cao trong máu

Tìm hiểu về chứng mỡ cao trong máu( máu nhiễm mỡ)

1. Mỡ trong máu là gì?

 Mỡ trong máu là tên gọi chung của chứng có lipid trong máu. Trong mỡ máu chủ yếu gồm: Cholesterol, triglycer-ide, phosphatide, acid béo… chúng là những bộ phận hợp thành quan trọng của máu. Lipid không tan hoặc ít tan trong nước, cần phải kết hợp với protein để tồn tại dưới hình thức lipoprotein thì mới có thể vận chuyển trong tuần hoàn máu. Vì thế, chứng mỡ cao trong máu thường là phản ánh chứng lipoprotein trong máu cao, biểu hiện là chứng cholesterol triglycerine trong máu cao, hoặc cả hai.

chuẩn đoán chứng mỡ cao trong máuChứng mỡ cao trong máu

Về lâm sàng thì chứng mỡ cao trong máu chia   thành hai loại: 

Loại thứ nhất: Tính nguyên phát, ít gặp, thuộc bệnh rối loạn trao đổi chất mỡ mang tính di truyền. 

Loại thứ hai: Tính thứ phát, thường thấy ở bệnh béo phì, bệnh tiểu đường khống chế không tốt, uống rượu, chứng suy giảm chức năng tuyến giáp, hội chứng bệnh thận, thẩm tách thận, cấy thận, bệnh gan mãn tính, tắc nghẽn đường mật, do uống thuốc tránh thai v.v… 

Nguồn mỡ trong máu con người chủ yếu có hai loại: 

-Một là nguồn từ bên ngoài, chủ yếu là thức ăn giàu lipid và cholesterol, như lòng đỏ trứng, bơ, nội tạng (nhất là gan) động vật, thức ăn từ cá, thịt giàu lipid v.v… 

– Nguồn thứ hai là nguồn bên trong, chủ yếu do cơ thể tự tổng hợp. Sau khi lipid trong     thức ăn được làm mềm trong dạ dày, sẽ từ dạ dày đi vào ruột non; khi đó túi mật, dưới ảnh hưởng của một số hormon đặc biệt trong thức ăn và đường ruột sẽ co bóp, đưa dịch mật từ túi mật chảy vào, từ đó làm nhũ hóa lipid, tạo nên những giọt mỡ nhỏ phân tán trong dung dịch nước.

Lúc này lipidase được tiết ra từ tuyến tụy có thể phân giải lipid thành glycerine và acid béo một cách hữu hiệu. Sau đó, acid cholic trong dịch mật lại kết hợp với nó, tạo thành hợp chất tan trong nước, thúc đẩy nó được hấp thu trong ruột non. Mỡ nguồn trong chủ yếu được tổng hợp từ trong gan hoặc ruột non, chiếm đến 90% nguồn mỡ này.

Trong trường hợp bình thường, mỡ nguồn trong và mỡ nguồn ngoài kết hợp với nhau để duy trì sự cân    bằng mỡ máu trong cơ thể. Khi hàm lượng lipid, cholesterol trong thức ăn được hấp thu vào tăng cao, sự hấp thu đường ruột tăng lên, nồng độ mỡ trong máu cao, đồng thời sự tổng hợp của gan bị ức chế; khi hạn chế hấp thu, sự tổng hợp của gan đẩy mạnh, đồng thời sự thanh trừ cũng tăng tốc.

chẩn đoán chứng mỡ cao trong máuMáu bị nhiễm mỡ

Khi sự trao đổi chất của gan bị rối loạn, không thể điều tiết sự trao đổi lipid bình thường được. Trong tình trạng đó nếu tiếp tục ăn những thức ăn giàu mỡ, sẽ dẫn đến nồng độ mỡ trong máu tiếp tục tăng lên, từ đó tạo thành chứng mỡ cao trong máu, lâu dần có thể gây ra bệnh tim mạch và các tổn hại nghiêm trọng của cơ thể. 

Chứng mỡ cao trong máu chỉ nồng độ mỡ trong máu vượt quá mức bình thường. Thông qua thói quen ăn uống sinh hoạt cá nhân có liên quan đến việc gây ra chứng mỡ cao trong máu thứ phát hay không, có quá khứ sử dụng thuốc, nguồn gốc gia đình và vấn đề kiểm tra sức khỏe v.v…, có thể sơ bộ phán đoán được có bị mắc chứng mỡ cao trong máu hay không.

Tiến hành kiểm tra cholesterol và triglyceride trong huyết tương, có thể biết người đó có bị mắc chứng mỡ cao trong máu hay không. Mỡ máu không tan hoặc không tan trong nước, cho nên lipid trong máu đều tồn tại dưới dạng kết hợp với protein thành lipoprotein. Lipoprotein có thể tan trong nước, theo tuần hoàn đi đến các tổ chức    khí quan và tế bào toàn thân. Do đó, mỡ máu mà các bệnh viện chẩn đoán hiện nay đều là lipoprotein trong huyết tương. 

2. Cách chẩn đoán chứng mỡ cao trong máu

Thông thường việc đo mỡ máu bao gồm bốn mục: Cholesterol tổng (TC), triglyceride (TG), lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao (HDL – C) và lipoprotein cholesterol tỷ trọng thấp (LDL – C). Mỡ máu bất thường, thường để chỉ TC, TG, LDL – C vượt quá phạm vi bình thường hoặc HDL – C thấp. Mỡ máu bất thường cũng gọi là chứng mỡ cao trong máu, nói chính xác là chỉ TC hoặc LDL – C hoặc TG tăng cao.

Bốn mục lipoprotein trong huyết tương được đo có tác dụng đối với sự phát sinh, phát triển xơ hóa động mạch khác nhau. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa TC và LDL – C với bệnh mạch vành và các bệnh xơ   hóa động mạch khác là nhiều nhất, kết luận cũng được khẳng định nhất. Thông thường TC càng cao thì tỷ lệ phát sinh bệnh mạch vành và tử vong cũng càng cao và ngược lại.

Nghiên cứu chứng minh: thông thường những người làm cho mức TC hoặc LDL – C thấp xuống ít mắc bệnh mạch vành và các bệnh nhồi máu cơ tim, đột tử, đột quỵ hơn so với những người không sử dụng biện pháp giảm mỡ. Giảm LDL – C 30% trở lên, so với không giảm mỡ, có thể làm cho tỷ lệ tái mắc bệnh mạch vành gây ra tử vong hoặc không gây tử vong giảm xuống còn 33%, đột quỵ giảm xuống 29%, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch giảm xuống 28%, tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân khác giảm xuống 22%. 

chẩn đoán chứng mỡ cao trong máuNồng độ cholesterol trong máu

Nồng độ cholesterol và triglyceride trong máu có thể tăng cao theo tuổi tác, đàn ông đến 60 tuổi, phụ nữ đến 70 tuổi thì đạt mức cao nhất. Cholesterol trong máu phụ nữ thường cao hơn của đàn ông; nhất là trước kỳ kinh nguyệt, trong thời gian mang thai và sau thời kỳ mãn kinh thì cao hơn bình thường. Do đó, rất khó quy định một mức bình thường cho mỡ máu. Giáo sư Từ Thành Bân – Bệnh viện Nhân dân Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc) đề xuất ba mức mỡ máu: 

  1. Người không bị bệnh mạch vành hay các bệnh xơ vữa động mạch khác, không có các yếu tố nguy hiểm gây bệnh mạch vành và xơ vữa động mạch thì ở mức thứ nhất. 
  2. Người không bị bệnh mạch vành hay các xơ vữa    động mạch khác, nhưng có yếu tố nguy hiểm gây bệnh mạch vành thì ở mức thứ hai. 
  3. Người bị bệnh mạch vành hay bệnh xơ vữa động mạch khác thì ở mức thứ ba. 

Thông thường, các yếu tố nguy hiểm gây bệnh mạch vành hoặc bệnh xơ vữa động mạch khác không ngoài hai nhân tố sau: 

  1. Nhân tố nguy hiểm có thể thay đổi được: mỡ máu bất thường, cao huyết áp, hút thuốc, bệnh tiểu đường. 
  2. Nhân tố nguy hiểm không thay đổi được: tuổi tác cao, phụ nữ sau khi hết kinh, nguồn gốc gia đình bị bệnh mạch vành (chỉ trong người thân trực hệ có tiền sử bệnh mạch vành, nhất là đàn ông bị mắc bệnh mạch vành sớm trước 55 tuổi, phụ nữ mắc bệnh trước     65 tuổi). 

Nhân tố nguy hiểm càng nhiều thì khả năng mắc bệnh mạch vành và các bệnh xơ vữa động mạch khác càng lớn. Vì mức mỡ máu chịu ảnh hưởng của việc ăn uống và trao đổi chất thay đổi hàng ngày, nên trước khi đến bệnh viện tiến hành kiểm tra mỡ máu phải chú ý mấy điều sau: 

  1. Cần lấy máu tĩnh mạch vào sáng sớm sau khi để bụng rỗng 12 giờ làm chuẩn. Vì những mẫu lấy không phải khi bụng rỗng có thể làm cho hàm lượng mỡ máu, nhất là triglyceride tăng cao. 
  2. Trước khi lấy máu cần duy trì ăn uống theo quy tắc ban đầu ít nhất 2 tuần và giữ vững thể trọng. Nếu trước khi lấy máu mà ăn uống không điều độ hoặc ăn chay trong 3 ngày, thì kết quả đo được không    phản ánh được mức độ bình thường. 
  3. Nên lấy máu trong trạng thái sinh lý, bệnh lý tương đối ổn định, trong 4 – 6 tuần không có bệnh cấp tính. Mẫu máu lấy khi bị nhiễm trùng cấp tính, sốt cấp tính, nhồi máu cơ tim cấp tính, phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai, trạng thái kích thích, có vết thương và uống một số loại thuốc thì có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on linkedin
Scroll to Top